Trong kháng chiến, hàng nghìn chiến sĩ giao liên đã hy sinh, bị cầm tù, bị tra tấn. Họ đã “dũng cảm” chiến đấu với kẻ thù xâm lược và cống hiến xuất sắc cho thắng lợi của cách mạng. Trong hòa bình, đội ngũ lao động Bưu điện Việt Nam “tận tụy”, trách nhiệm với công việc được tổ chức phân công; “sáng tạo” trong lao động, sản xuất, kinh doanh; "Nghĩa tình" với các thế hệ đi trước, với đồng chí, đồng nghiệp.

Đài tưởng niệm ngành Giao bưu – Vô tuyến điện Nam Bộ
Hai chữ “Bưu điện” xuất hiện vào thời kỳ từ cuối thế kỷ 19 đến trước tháng 8/1945, khi có người phu chạy bộ đưa thư (bưu chính) và những nhà dây thép đầu tiên (điện tín) ra đời. Lúc này, hệ thống thông tin liên lạc của nước ta do người Pháp quản lý.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, trong khi đó miền Nam nằm dưới ách thống trị của chính quyền Sài Gòn (đế quốc Mỹ và tay sai). Với tình hình chính trị như vậy đòi hỏi phải thay đổi nhiệm vụ của ngành Bưu điện giữa 2 miền, không thể tiếp tục giống nhau như trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ở khu vực miền Bắc, Bưu điện bước vào môi trường mới, chuyển dần từ một ngành hoạt động trong điều kiện chiến tranh sang một ngành dân sự nâng nhiệm vụ phục vụ xã hội lên ngang phục vụ Quốc Phòng. Còn đối với miền Nam, Bưu điện là công cụ của một chế độ đang nuôi nhiều tham vọng thống trị.
Theo lời dạy của Bác Hồ về công tác thông tin của cách mạng tại căn cứ địa cách mạng ở Pác Bó (Cao Bằng), tháng 5/1941: “Việc liên lạc là một việc quan trọng nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi". Chính vì vậy, tại miền Nam cũng không để mất đi hệ thống giao thông liên lạc thông tin vô tuyến điện của cách mạng.
Tuy nhiên, khi mà địch kiểm soát các trục giao thông và vùng dân cư, việc giữ liên lạc thông suốt và truyền tin về các chỉ đạo của Đảng bộ cấp trên đến các đơn vị, tổ chức thuộc các vùng ở Nam vĩ tuyến 17 hết sức khó khăn. Gọi là Bưu điện, thế nhưng phần điện báo giữ tỷ lệ rất khiêm tốn bởi một điện đài lên tiếng thì dễ bị địch phát hiện. Giao liên trong trường hợp đó vừa mang công văn, chỉ thị hoặc báo cáo, vừa tải bưu phẩm - chủ yếu là sách báo - vừa chuyển một số vật tư cần cho chiến đấu kể cả vũ khí nhẹ, chất nổ, tiền bạc, thuốc men. Song có lẽ việc quan trọng hơn cả là đưa đón cán bộ đi lại, những cán bộ ở nhiều vùng khác nhau, dáng vẻ bên ngoài khác nhau. Nếu đi theo đường du kích thì có thể nguy hiểm, thậm chí không phù hợp với một số người nào đó, mà đi công khai thì phải qua trước mũi địch. Trạm giao liên phải bố trí thật kỹ, nhờ đồng bào bảo vệ, soạn sẵn lý lẽ hợp pháp khi bị xét hỏi, phải có hầm bí mật, tổ chức như đội vũ trang sẵn sàng nổ súng.
Có thể thấy, công tác giao liên là một nhiệm vụ nguy hiểm không khác gì chiến đấu trực diện trên chiến trường.

Giao liên Quảng Trị vận chuyển công văn tài liệu năm 1973
Nhiều sáng kiến để qua mắt địch
Sáng kiến của đội ngũ giao liên thật vô tận, tất cả để hoàn thành nhiệm vụ đưa đón cán bộ. Trong Thành ủy Sài Gòn - Gia định có hai nhân vật khá nổi với ngành giao liên là tôi vì hình ảnh bị Mỹ ngụy dán khắp nơi nên dễ nhận diện và anh Mai Chí Thọ. Thế nhưng, vì nhiệm vụ nên đôi lúc chúng tôi không thể theo đường du kích được mà phải đi công khai bằng cách hóa trang, chia làm nhiều lộ trình và di chuyển bằng các phương tiện khác nhau. Riêng tôi nhiều lần đi máy bay từ Trà Vinh về Tân Sơn Nhất, hoặc đi ô tô lên Đà Lạt, Nha Trang. Những tuyến đường mà địch ít nghi ngờ nhất đều được chúng tôi sử dụng.
Phạm vi giao thông mở rộng theo đà tiến lên của cách mạng. Một “trung tâm” đưa đón người thành lập ở Phnôm-Pênh, do đồng chí Dương Quang Đông phụ trách. Từ năm 1963, hầu hết cán bộ cao cấp từ Hà Nội vào Trung ương Cục, hoặc ngược lại đều qua ngã ba này. Tôi biết các anh Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Vịnh, Trần Văn Trà, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Linh… đã sử dụng con đường độc đáo như vậy. Cuối năm 1969, khi Bác Hồ mất, Trung ương gửi tôi ra Hà Nội, cùng đi với anh Phạm Hùng. Chúng tôi được anh Dương Quang Đông đưa lên Phnôm-Pênh để đáp máy bay Pháp sang Thượng Hải rồi theo chuyên cơ về Hà Nội. Sau đó, quay về chiến trường với hành trình giống như lúc đi.
Hàng nghìn chiến sĩ giao bưu liên lạc đã hy sinh thầm lặng
Trong thời kỳ kháng chiến, giao liên được chia thành 2 bộ phận là giao liên du kích và giao liên công khai.
Giao liên du kích chuyên bố trí thành tuyến rải rác khắp địa bàn với các trạm. Khi cuộc kháng chiến ở miền Nam phát triển, một số trạm giao liên du kích trở thành các binh trạm do cơ quan quân sự quản lý. Quân bưu giữ vai trò cực kỳ quan trọng suốt tuyến dọc Trường Sơn - đôi khi tàu vận chuyển vũ khí Bắc Nam trên biển cũng đưa cán bộ vào chiến trường.
Ở các vùng đồng bằng đông dân cư, giao liên du kích do các cấp ủy Đảng trực tiếp chỉ đạo như mạch máu li ti, nối liền các khu vực, nối liền trên dưới. Trạm giao liên du kích thường đặt ở những nơi ít ai ngờ. Chẳng hạn, trạm giao liên nối Củ Chi với Bình Tân (nay là Bình Chánh) nằm trong một gốc dứa gai chơ vơ giữa đồng nước bưng An Hà, muốn vào trạm phải lặn qua vòng dứa gai, đến một mô đất khô đủ cho vài ba người ngồi. Có những đồng chí trưởng trạm - trạm có khi cũng chỉ có một đồng chí, nhiều nhất thêm một giao liên nữa đã bám trạm hàng chục năm, luôn mặc quần đùi, ở trần, ít khi được ăn cơm nóng, kề cận với sự hi sinh từng giờ.

Các chiến sỹ giao liên vận chuyển công văn, giấy tờ trong vùng kháng chiến
Giao liên công khai được sử dụng từ thời kỳ Đảng ta còn hoạt động bí mật. Khi phong trào các đô thị mạnh lên và chiến trường nông thôn bị chia cắt từng mảnh nhỏ, nó trở thành một bộ phận quan trọng của giao thông liên lạc cách mạng. Trước nhu cầu thiết thân, Khu ủy Sài Gòn rồi Thành uỷ Sài Gòn chú ý xây dựng ngành giao liên công khai như lực lượng chính bảo đảm đường dây chỉ đạo và đưa đón cán bộ. Sau một khoảng thời gian, các địa phương khắp miền Nam đều có giao liên công khai, ngay các ngành như quân báo, tình báo, biệt động, an ninh, binh vận, y tế, tài chính, hậu cần đều xây dựng giao liên công khai.
Giao liên công khai là cán bộ dân vận giỏi, đủ bản lĩnh qua mắt địch, có cơ sở trong vùng địch kiểm soát và ở vùng ven - nơi đặt trạm thường gọi là “bàn đạp” nối liền hai vùng, đặt trên các trục lộ tiện ra vào đô thị. Khác với giao liên du kích, giao liên công khai cần hóa trang tinh vi, bản thân nhân viên giao liên phải tạo các vỏ hợp pháp và mỗi chuyến đưa đón “khách” được giải thích như sinh hoạt bình thường. Đây là việc làm không hề đơn giản, nhất là trước bọn do thám tại chỗ. Quy luật là luôn thay đổi địa điểm, giờ giấc. Mỗi cái hẹn đòi hỏi sự tính toán chi li bởi mỗi sơ suất nhỏ đều đưa đến hậu quả xấu khó lường. Chính qua công tác dân vận với sự hỗ trợ can đảm của đồng bào mà giao liên công khai tồn tại và hoạt động tốt.

Đồng chí Trần Văn Thâm (tức Ba Cao - người ngồi giữa) Trưởng Ban Giao bưu vận tải tại Hội nghị Giao bưu vận tải miền Nam
Những “bàn đạp” của giao liên công khai được tổ chức theo các trạm giao liên nói chung, tức có ngụy trang, có hầm bí mật. Riêng với Thành ủy Sài Gòn, giao liên công khai còn là đường vận chuyển thư từ, báo cáo từ nội thành ra và chỉ thị, thông báo từ lãnh đạo vào nội thành. Khối lượng báo chí, sách vở công khai mà giao liên phải đưa hàng ngày vào căn cứ khá lớn, rất dễ bị lộ. Giao liên công khai theo dõi những hoạt động từng giờ, từng ngày của địch và chọn phương pháp đối phó.
Cuộc chiến đấu của giao liên công khai hết sức căng thẳng. Chưa có một thống kê song ai cũng biết số giao liên công khai hy sinh, bị tù, bị tra tấn đông đến hàng nhiều nghìn, đa số là nữ. Các đồng chí giao bưu mưu trí, nhạy bén trước các tình huống, đã cống hiến xuất sắc cho thắng lợi của cách mạng.
Nghĩa trang ngành Giao bưu và Thông tin tại Tân Biên nhắc nhở tất cả chúng ta rằng một cán bộ đã qua kháng chiến không thể sống đến ngày hôm nay nếu không có sự xả thân của nhiều chiến sĩ giao bưu thông tin. Các chiến sỹ liên lạc, giao bưu, thông tin đã cống hiến xuất sắc cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Nguồn tham khảo: Vnpost.vn